Gần như mọi bảng so sánh chi phí giữa hạ tầng tự vận hành và cloud mà bạn từng thấy đều nghiêng về một phía, và thường không phải vì người lập cố tình gian lận. Nguyên nhân phổ biến hơn là mỗi bên đếm rất kỹ những khoản mình quen thuộc và bỏ qua những khoản nằm ngoài phạm vi công việc của mình. Đội hạ tầng đếm giá máy chủ mà quên chi phí điện và nhân sự trực; đội cloud đếm giá tính toán theo giờ mà quên phí truyền dữ liệu và gói hỗ trợ.
Bài viết này không đưa ra kết luận bên nào rẻ hơn, vì câu trả lời phụ thuộc hoàn toàn vào hồ sơ tải, mức sử dụng thực tế và cấu trúc vốn của từng doanh nghiệp. Thứ bài viết đưa ra là một khung tính bằng biến số, để bạn điền số của chính mình và có được một so sánh mà bộ phận tài chính chấp nhận được.
Nguyên tắc: chuẩn hoá đơn vị trước khi so sánh
Sai lầm nền tảng là so sánh tổng chi phí của hai thứ không tương đương. Trước khi cộng bất kỳ con số nào, hãy chốt ba thứ:
- Đơn vị công việc. Có thể là một giao dịch nghiệp vụ, một nghìn yêu cầu, một tài khoản khách hàng hoạt động, hay một terabyte lưu trữ được phục vụ. Toàn bộ kết quả sẽ được quy về chi phí trên một đơn vị công việc mỗi tháng.
- Khoảng thời gian. Dùng đúng một chu kỳ làm mới phần cứng, thường là ba đến năm năm. So sánh chi phí cloud một năm với chi phí mua máy chủ dùng năm năm là so sánh vô nghĩa.
- Mức dịch vụ. Hai phương án phải cùng mục tiêu về tính sẵn sàng, thời gian khôi phục và mức mất dữ liệu chấp nhận được. Nếu phương án tự vận hành không có site dự phòng còn phương án cloud có nhân bản đa vùng, chênh lệch chi phí phần lớn đến từ mức dịch vụ chứ không phải mô hình.
Ký hiệu dùng trong bài: N là số đơn vị công việc mỗi tháng, T là số tháng trong khoảng phân tích, r là chi phí vốn theo năm của doanh nghiệp, và U là mức sử dụng trung bình của hạ tầng tự vận hành tính theo phần trăm công suất đã mua.
Một lưu ý về tổ chức trước khi vào số liệu: mô hình này không nên do riêng đội hạ tầng lập, và càng không nên do riêng nhà cung cấp lập. Bộ phận tài chính nắm r, chính sách khấu hao và chi phí giờ đầy đủ của nhân sự. Bộ phận nghiệp vụ nắm định nghĩa và dự báo của N. Đội kỹ thuật nắm số liệu sử dụng thật và các giả định kiến trúc. Thiếu một trong ba bên, mô hình sẽ bị phản bác đúng ở dữ liệu mà bên đó lẽ ra cung cấp, và quyết định lại lùi thêm một quý.
Phía on-premise: những khoản thường bị bỏ quên
Giá mua thiết bị hầu như luôn là phần nhỏ của tổng. Danh sách dưới đây gồm những khoản mà các bản dự toán nội bộ hay bỏ sót:
- Mặt bằng. Diện tích phòng máy hoặc phí thuê tủ rack tại trung tâm dữ liệu, cộng chi phí cơ hội của không gian nếu phòng máy nằm trong văn phòng.
- Điện năng. Không chỉ điện cho thiết bị mà cả hệ số hiệu quả sử dụng năng lượng của cơ sở, vì mỗi đơn vị điện cho máy kéo theo một phần điện cho làm mát và tổn hao.
- Làm mát. Thiết bị điều hoà chính xác, bảo trì định kỳ, và chi phí thay thế khi hết vòng đời.
- Nguồn dự phòng. Bộ lưu điện, ắc quy phải thay theo chu kỳ, máy phát và nhiên liệu, cùng các đợt thử tải.
- Mạng. Đường truyền chính và dự phòng, thiết bị chuyển mạch, tường lửa, cân bằng tải, và chi phí gia hạn giấy phép cho các thiết bị đó.
- Thiết bị dự phòng. Ổ đĩa, nguồn, mô đun bộ nhớ để trong kho. Vốn nằm chết ở đây là chi phí thật.
- Hợp đồng bảo hành và hỗ trợ. Phí duy trì theo năm cho phần cứng, hệ điều hành, ảo hoá, バックアップ và giám sát. Khoản này thường tăng dần theo tuổi thiết bị.
- Thời gian nhân sự. Vá lỗi, thay thiết bị hỏng, xử lý sự cố ngoài giờ, chuẩn bị kiểm toán. Ghi nhận bằng số giờ nhân với chi phí giờ đầy đủ, không phải lương cơ bản.
- Chu kỳ làm mới. Chi phí thay thế toàn bộ nền tảng sau ba đến năm năm, cộng chi phí di chuyển dữ liệu và thời gian dự án.
- Vốn bị chôn. Số tiền đã bỏ ra không còn dùng được cho việc khác. Với khoản đầu tư C trong T tháng, chi phí cơ hội xấp xỉ C nhân r nhân T chia mười hai.
- Dư thừa công suất. Hạ tầng tự vận hành phải mua theo đỉnh tải. Nếu U chỉ đạt ba mươi phần trăm, chi phí thực trên mỗi đơn vị công việc gấp hơn ba lần chi phí trên công suất danh nghĩa.
- Thanh lý. Xoá dữ liệu an toàn, tháo dỡ, xử lý rác thải điện tử.
Phía cloud: những khoản thường bị bỏ quên
Bảng giá cloud minh bạch, nhưng hoá đơn thực tế lại chứa nhiều dòng mà bản dự toán ban đầu không có:
- Truyền dữ liệu ra ngoài. Thường là bất ngờ lớn nhất, đặc biệt với hệ thống phục vụ nội dung hoặc đồng bộ dữ liệu với hệ thống bên ngoài.
- Lưu lượng giữa các vùng sẵn sàng và giữa các vùng địa lý. Kiến trúc nhiều tầng nói chuyện qua lại có thể tạo ra lưu lượng nội bộ lớn hơn lưu lượng phục vụ người dùng.
- Ảnh chụp và bản sao lưu. Chính sách giữ lại quá dài là nguyên nhân phổ biến khiến chi phí lưu trữ tăng đều mà không ai để ý.
- Gói hỗ trợ. Thường tính theo phần trăm chi tiêu, nên nó tăng cùng với hệ thống chứ không cố định.
- Thay đổi mô hình cấp phép. Một số phần mềm thương mại tính phí khác nhau khi chạy trên hạ tầng chia sẻ, hoặc yêu cầu loại サーバーレンタル. Đây là khoản dễ làm sai lệch toàn bộ mô hình nếu bỏ qua.
- Phần chênh của dịch vụ quản trị. Cơ sở dữ liệu quản trị, hàng đợi quản trị và tương tự thường đắt hơn tự vận hành trên máy ảo, đổi lại là giảm thời gian nhân sự. Cần ghi nhận cả hai chiều.
- Tài nguyên bỏ quên. Đĩa không gắn với máy nào, địa chỉ IP giữ chỗ, môi trường thử nghiệm không ai tắt.
- Nhật ký và giám sát. Chi phí thu thập và lưu trữ nhật ký tăng theo lưu lượng, và thường tăng nhanh hơn phần tính toán.
- Thành phần mạng tính theo lưu lượng xử lý. Cổng dịch tên địa chỉ, cân bằng tải và các thành phần tương tự tính phí theo dữ liệu đi qua.
- Cam kết tối thiểu. Hợp đồng dài hạn giảm đơn giá nhưng khoá bạn vào một mức tiêu dùng; nếu tải giảm, phần cam kết vẫn phải trả.
Và một sự thật cần nói thẳng: cloud chưa được tối ưu thì đắt. Đây không phải khiếm khuyết của mô hình mà là hệ quả của việc mang nguyên thói quen mua theo đỉnh tải sang một môi trường tính tiền theo mức dùng.
Khung tính bằng biến số
Bảng dưới đây liệt kê các nhóm chi phí và cách quy về đơn vị chuẩn hoá. Bạn điền số của mình vào cột cuối.
| グループ | On-premise | Cloud | Quy đổi |
|---|---|---|---|
| 計算基盤 | Khấu hao thiết bị theo tháng chia cho U | Chi phí tính toán sau khi áp dụng cam kết | Chia cho N |
| ストレージ | Khấu hao đĩa cộng phần dự phòng | Dung lượng cộng ảnh chụp cộng sao lưu | Chia cho N |
| Mạng và truyền dữ liệu | Đường truyền cộng thiết bị | Truyền ra ngoài cộng lưu lượng nội bộ | Chia cho N |
| Cơ sở vật chất | Mặt bằng, điện, làm mát, nguồn dự phòng | Đã bao gồm trong đơn giá | Chia cho N |
| Nhân sự và hỗ trợ | Giờ công nhân chi phí giờ đầy đủ | Gói hỗ trợ cộng giờ công còn lại | Chia cho N |
| Bản quyền | Giấy phép theo lõi hoặc theo máy | Giấy phép theo mô hình đám mây | Chia cho N |
| Chi phí vốn | C nhân r nhân T chia mười hai | Gần bằng không | Chia cho N và T |
| Làm mới và thoát | Chi phí thay thế cuối chu kỳ | Chi phí truyền dữ liệu khi rời nền tảng | Chia cho N và T |
Ba sai lầm làm hỏng mọi mô hình
- So sánh công suất danh nghĩa thay vì công suất dùng thật. Nếu không chia cho U, phía tự vận hành sẽ luôn trông rẻ hơn thực tế.
- Bỏ qua giá trị thời gian của tiền. Một khoản chi lớn ở tháng đầu và một chuỗi chi phí hàng tháng không tương đương nhau, ngay cả khi tổng bằng nhau.
- Giả định kiến trúc không đổi. Chuyển nguyên trạng một hệ thống sang cloud rồi kết luận cloud đắt là một kết luận về cách chuyển, không phải về cloud.
Tối ưu trước khi kết luận
Nếu mô hình cho thấy cloud đắt hơn, hãy kiểm tra xem đã áp dụng các biện pháp cơ bản chưa trước khi mang kết luận đi họp: chọn lại kích thước máy theo số liệu sử dụng thật, dùng cam kết dài hạn cho phần tải nền, phân tầng lưu trữ theo tần suất truy cập, đặt vòng đời cho ảnh chụp và nhật ký, tắt môi trường phát triển ngoài giờ làm việc, và co giãn theo tải cho phần biến thiên. Ở phía tự vận hành, phép tương đương là kiểm tra mức sử dụng thật của cụm máy ảo trước khi mua thêm, và gom các cụm dùng dưới công suất trước khi gia hạn hợp đồng hỗ trợ.
Tối ưu cũng không phải việc làm một lần, và mô hình nên phản ánh điều đó. Kích thước máy sẽ lệch dần khi tải thay đổi, cam kết sẽ hết hạn, lưu trữ sẽ tích tụ. Hãy dành một phần thời gian kỹ sư định kỳ cho việc rà soát chi phí và tính phần thời gian đó vào cột cloud; nếu không, mô hình đang ngầm giả định một trạng thái tối ưu mà không ai được giao nhiệm vụ duy trì.
Trình bày kết quả cho ban lãnh đạo
Đừng đưa một con số duy nhất. Hãy đưa một dải, kèm phân tích độ nhạy trên ba biến quan trọng nhất, thường là mức tăng trưởng của N, mức sử dụng U, và khối lượng truyền dữ liệu. Trình bày ba kịch bản: tải giảm, tải giữ nguyên, tải tăng gấp đôi. Một mô hình cho thấy phương án A rẻ hơn trong hai trên ba kịch bản là một mô hình có sức thuyết phục; một con số chính xác đến hàng đơn vị thì không.
HiTechCloud có thể hỗ trợ gì
HiTechCloud là đối tác của AWS, Google Premier Partner và vận hành hạ tầng đặt trong nước, nên chúng tôi làm việc với cả ba mô hình tự vận hành, cloud và kết hợp. Chúng tôi có thể hỗ trợ thu thập số liệu sử dụng thực tế, dựng mô hình TCO theo biến số của doanh nghiệp, rà soát các khoản chi phí ẩn ở cả hai phía và đề xuất các bước tối ưu trước khi ra quyết định.




























































































































